Bệnh Dại nguy hiểm thế nào? nguyên nhân và cách phòng tránh

Bệnh dại gây ra hậu quả rất nghiêm trọng ở não và dây thần kinh mặc dù là một bệnh nhiễm trùng hiếm gặp. Bệnh thường bắt nguồn từ các vết xước hoặc vết cắn của động vật bị nhiễm bệnh thông thường là chó.

1. Tìm hiểu về bệnh dại

1.1 Thế nào là bệnh dại?

Bệnh dại là một bệnh nhiễm trùng do virus cấp tính của hệ thống thần kinh trung ương lây từ động vật sang người bởi chất tiết bị nhiễm virus, thông thường là nước bọt.

Hầu hết các trường hợp phơi nhiễm với bệnh dại đều do bị động vật mắc bệnh dại cắn như chó, khỉ, mèo… đôi khi hít phải khí dung hoặc ghép tổ chức mới bị nhiễm virus dại cũng có thể bị nhiễm bệnh. 100% đều dẫn đến tử vong khi đã lên cơn dại kể cả ở động vật hay ở người.

Đối tượng nguy cơ bệnh Dại:

  • Nhân viên làm việc trong phòng thí nghiệm có virus dại, nhân viên thú ý, kiểm lâm… nói chung là những người tiếp xúc nhiều với động vật.
  • Những người có sở thích đi du lịch thám hiểm ở các khu vực có bệnh dại lưu hành tỷ lệ cao Mexico, trung và Nam Mỹ, Nam Á, Châu Phi.

1.2 Bệnh dại có triệu chứng gì?

Thể viêm não và thể liệt là 2 thể chính sẽ xuất hiện khi bệnh dại phát:

Thể viêm não

Xuất hiện các triệu chứng đầu tiên như sốt, kiệt sức hoặc nhức đầu, mất ngủ, bồn chồn kèm theo chán ăn, đồng thời xuất hiện các triệu chứng như sợ gió, sợ nước. Bệnh nhân tăng tiết nước bọt nên không thể nhai hoặc nuốt và thường xuyên khạc nhổ khi bệnh ở giai đoạn tiến triển. Mắt nhìn sáng long sòng sọc, xuất tinh tự nhiên, co thắt hầu họng, cường dương và sẽ tử vong nhanh chóng do sau đó đồng tử bệnh nhân sẽ bị giãn.

Thể liệt

Xuất hiện các triệu chứng liệt từ tay, chân đến các cơ quan khác như cơ, đại tiện, rối loạn tiểu tiện. Bệnh nhân sẽ tử vong ngay khi liệt lan đến cơ hô hấp.

Trong một số trường hợp khác, người bị chó cắn sẽ sinh ra nhiều biểu hiện và hành động, âm thanh khác thường do quá lo sợ nên đã ám ảnh mình bị dại. Giả dại là tên gọi dùng để chỉ những trường hợp này. Trên thực tế cho đến lúc chết người bị dại sẽ hoàn toàn tỉnh táo chứ không hề điên dại.

Cần làm gì để phòng tránh bệnh dại?

Cần làm gì để phòng tránh bệnh dại?

1.3 Vì sao bị bệnh dại?

Virus dại (Rhabdovirus) thuộc họ Rhabdoviridae, giống Lyssavirus là tác nhân gây bệnh dại.

Virus dại dễ bị bất hoạt ở nhiệt độ 560 độ C trong vòng 30 phút và 700C trên 2 phút do sức đề kháng của virus dại yếu. Dưới các chất sát khuẩn ở nồng độ 2 đến 5% hoặc dưới ánh sáng virus bị mất độc lực. Virus có thể sống được vài tuần đến 12 tháng trong điều kiện lạnh 40 độ C và sống được từ 3 đến 4 năm ở nhiệt độ dưới 0 độ C. Virus dại chủ yếu được bảo tồn trong cơ thể vật chủ.

Virus dại gồm có 2 chủng:

  • Virus dại tồn tại trên động vật bị bệnh là virus dại đường phố
  • Virus cố định thời gian ủ bệnh trên thỏ gọi là virus dại cố định. Người đầu tiên chế ra vắc xin dại bằng việc sử dụng chủng virus dại cố định là Louis Pasteur .

1.4 Cách thức bệnh dại lây truyền

Thông qua vết cắn hoặc liếm bệnh dại lây từ nước bọt của động vật bị dại. Động vật có máu nóng, đặc biệt là chó thường là ổ chứa virus dại trong thiên nhiên. Ngoài ra, ở mèo, dơi, chồn và các động vật có vú khác cũng được phát hiện có virus dại.

Virus dại xâm nhập vào các dây thần kinh ngoại biên chạy dọc theo đó đến tủy sống và não bộ ngay khi vừa xâm nhập vào cơ thể. 12 đến 24 mm là con số chỉ đoạn đường di chuyển được của virus dại trong một ngày. Những dấu hiệu lâm sàng của người bệnh mới thực sự rõ ràng ngay khi virus dại đến não bộ.

Phụ thuộc vào số lượng virus xâm nhập vào cơ thể và sự nặng nhẹ của vết thương, khoảng cách của vết thương với hệ thần kinh trung ương mà thời gian ủ bệnh dại có thể dưới một tuần hoặc trên 1 năm. Thời gian ủ bệnh càng ngắn khi vết thương càng ở gần hệ thần kinh trung ương như mặt, đầu, cổ, ngón tay, cơ quan sinh dục ngoài.

2. Cách xử lý khi nghi ngờ mắc bệnh dại

2.1 Vệ sinh cơ bản vết cắn

  • Trong vòng 10 đến 15 phút vết thương cần được rửa và rửa ngay lập tức với xà phòng và nước. Có thể xả nước nếu xà phòng không có sẵn. Để tránh nguy cơ bị bệnh dại thì đây là việc làm hiệu quả nhất.
  • Dùng 70% rượu/ethanol hoặc povidone-iodine (nếu có) để làm sạch hoàn toàn vết thương. 
  • Để tiếp tục điều trị nên đưa người mắc bệnh dại đến cơ sở chăm sóc sức khỏe càng sớm càng tốt

Một số điều nên tránh đối với người nghi ngờ mắc bệnh dại: dùng các chất kích thích như ớt bột, axit hoặc kiềm, nước ép thực vật áp dụng vào các vết thương. Dùng băng gạc vết thương để băng vết thương.

2.2 Quan sát tình trạng động vật gây ra vết thương

Trong khi thời gian bị bệnh tính cho đến lúc chết có thể thay đổi từ 1 đến 7 ngày thì thời gian ủ bệnh dại có thể từ vài ngày cho đến vài tháng. 

Bệnh dại chó được đặc trưng bởi những thay đổi hành vi của nó so với bình thường như:

  • Cắn bất ngờ mà không hề có một sự khiêu khích nào
  • Ăn phải các vật bất thường như móng tay, phân, gậy…
  • Chạy không có mục đích rõ ràng
  • Đột nhiên thay đổi âm thanh như không có khả năng phát ra âm thanh hoặc khàn khàn, gầm gừ
  • Không phải hydrophobia (chứng sợ nước) nhưng vẫn tiết nước bọt hoặc tạo bọt quá mức ở các góc miệng. 

2.3 Theo dõi tình trạng người bệnh

Để chuẩn bị tốt nhất các biện pháp dự phòng bệnh thì cần theo dõi tình trạng của người bệnh, trước khi phát bệnh sẽ gặp các biểu hiện như:

  • Ở vị trí vết thương bị cắn thường đau hoặc ngứa(chiếm 80% trường hợp)
  • Trong 2 đến 4 ngày xuất hiện triệu chứng sốt, đau đầu, khó chịu
  • Chứng sợ nước
  • Không dung nạp không khí, tiếng ồn và ánh sáng
  • Sợ cái chết sắp xảy ra
  • Khó chịu, tức giận, và trầm cảm
  • Ở cổ và cổ họng chỉ nhìn thấy chất kích thích co thắt ở giai đoạn sau

2.4 Đưa người bệnh đi tiêm phòng vacxin dại

Nếu bạn bị chó hoặc mèo hay các động vật khác bị dại hoặc nghi ngờ nhiễm bệnh dại cắn thì việc dự phòng bệnh dại sau phơi nhiễm(PEP) là bắt buộc. Trong các điều kiện sau PEP được yêu cầu:

  • Chảy máu tại vết thương nếu vết cắn đã làm vỡ da
  • Nếu màng nhầy tiếp xúc với nước bọt từ một động vật nghi ngờ mắc bệnh dại
  • Nếu con vật đã cắn ai đó:
  • Bị giết chết
  • Trong thời gian quan sát đột nhiên biến mất
  • Hiển thị hành vi bất thường, thất thường
  • Từ nghi ngờ động vật dại là dương tính nếu xét nghiệm trong phòng thí nghiệm vật liệu não.

Phòng ngừa bệnh dại lây truyền qua người tốt nhất là tiêm phòng dại cho thú nuôi của bạn. Đối với cho từ 6 đến 8 tuần tuổi thì các gia đình nuôi thú cần tiêm phòng còn đối với mèo thì tiêm phòng ở 8 tuần tuổi hoặc theo hướng dẫn của bác sĩ thú y.

3. Một số vấn đề về bệnh dại

3.1 Tình trạng lây nhiễm có diễn ra giữa người với người không?

Trong y học đã ghi nhận một số trường hợp lây truyền trực tiếp từ người sang người mặc dù rất hiếm gặp. Nguy cơ có thể lây nhiễm bệnh dại từ người sang người chủ yếu là thông qua niêm mạc, thông qua vùng da bị tổn thương hoặc do sử dụng chung vật dụng, đồ ăn có nhiễm nước bọt của người mắc bệnh dại. Tuy nhiên, tình trạng lây nhiễm bệnh dại từ người qua người là không hoàn toàn phổ biến nó chủ yếu xuất hiện thông qua các ca ghép tạng.

3.2 Mắc dại nếu bị chó cắn?

Có thể mắc bệnh dại nếu bị chó cắn mà không tiêm phòng. Tuy nhiên, không phải 100% tất cả mọi người bị chó cắn đều bị dại.

Phụ thuộc vào nhiều yếu tố mà xác định nguy cơ nhiễm dại bao gồm lượng virus trong nước bọt của con vật nhiều hay ít, con vật đó có bị dại hay không, có vệ sinh sát khuẩn vị trí tổn thương kịp thời ngay sau khi bị chó cắn hay không, vết thương nông hay sâu… Biện pháp phòng tránh và bảo vệ hiệu quả nhất là tiêm phòng ngay sau khi bị chó cắn.

3.3 Chữa trị bệnh dại ở người

Virus dại phát triển ở lớp mô trong cùng bên dưới da người hoặc vào các dây thần kinh ngoại biên hoặc từ cơ bắp như xâm nhập vào cơ thể người.

Ước tính mỗi ngày virus có thể di chuyển dọc theo dây thần kinh đến tủy sống với tốc độ 12 đến 24 mm.

Người nhiễm bệnh dại sẽ có những biểu hiện thay đổi về hành vi và các dấu hiệu lâm sàng một khi virus đã xâm nhập vào não.

Tùy thuộc vào tình trạng và vị trí so với hệ thần kinh trung ương mà thời gian ủ bệnh có thể từ vài ngày hoặc vài tháng cho đến 1 năm.

Khi bệnh dại phát triển mà không điều trị cụ thể. Hầu như ngoài việc giữ cho bệnh nhân thoải mái và không khó chịu về cảm xúc cũng không đau đớn về thể xác thì không có cách nào khác có thể thực hiện được.

  • Người chăm sóc nên sử dụng các thiết bị bảo vệ y tế cá nhân để tránh bị cắn và nhiễm  nước bọt của màng nhầy và vết thương.
  • Một số kích thích như không khí lạnh hoặc tiếng ồn lớn khả năng làm tăng co thắt và co giật nên giữ bệnh nhân trong vòng yên tĩnh với ánh sáng dịu và bảo vệ họ khỏi kích thích
  • Bổ sung  diazepam 10 mg cứ sau 4 giờ 6 giờ bằng cách sử dụng chlorpromazine 50 sắt 100mg hoặc morphin tiêm tĩnh mạch kiểm soát co thắt cơ bắp và dễ bị kích thích nếu cần thiết.
  • thường không thể cho ăn bằng miệng. Nên được tiêm tĩnh mạch đối với chất lỏng.

4. Làm thế nào để phòng bệnh dại?

– Thực hiện tốt tuyên truyền và giáo dục sức khỏe cộng đồng bằng cách cung cấp những thông tin cần thiết về bệnh dại và cách phòng chống bệnh dại nhất là cách xử lý sau khi bị động vật mắc dại cắn hoặc cách phát hiện động vật bị dại.

– Thực hiện giám sát nơi có ổ dịch chó dại hoặc những nơi mua bán súc vật nhất là chó, mèo bằng cách phối hợp với thú y

– Đối với những người nuôi chó hoặc mèo nên thực hiện đăng ký và cấp giấy phép,  tiêm vắc xin dại có hiệu lực cho đàn chó, mèo đạt trên 85% trong quần thể súc vật nuôi.

– Cần được gây miễn dịch bằng cách vắc xin dại tế bào có hiệu lực bảo vệ cao và tiêm nhắc lại theo chỉ định của y tế đối với những người làm việc trong phòng thí nghiệm có vi rút dại, nhân viên thú y, kiểm lâm.

– Thực hiện càng sớm càng tốt việc khám bệnh nhân bị động vật cắn hoặc tiếp xúc để có chỉ định điều trị dự phòng bằng vắc xin dại hoặc vắc xin + huyết thanh kháng dại.

5. Lời kết

Nên tìm hiểu về bệnh dại cũng như các phương thức phòng chống bệnh dại nhằm giúp bảo vệ bản thân và cộng đồng.

Khi có nghi ngờ mắc bệnh dại nên đến cơ sở y tế gần nhất để chẩn đoán và điều trị kịp thời.