Cây Đan Sâm là gì? Tác dụng, cách dùng và lưu ý quan trọng

1. Khái quát chung về đan sâm

1.1. Nguồn gốc của cây đan sâm

Đan sâm xuất hiện nhiều ở tỉnh Hà Bắc, Giang Tô, Tứ Xuyên, Sơn Tây,… của Trung Quốc. Cây di thực vào nước ta và trồng nhiều ở Tam Đảo ( Vĩnh Phúc).

Những tên gọi khác là: viểu đan sâm, vử đan sâm, vân nam thử vỹ, xích sâm, Huyết căn, tử đan sâm, huyết sâm.

Đan sâm có tên dược là Radix Salviae militiorrhizae , tên khoa học Salvia miltiorrhiza Bge là và thuộc họ Hoa môi ( Lamiaceae).

Tác dụng của cây đan sâm

Tác dụng của cây đan sâm

1.2. Đặc điểm hình dạng của cây đan sâm

Đan sâm là một cây thuốc nam quý thuộc dạng cây cỏ sống lâu năm. Cao từ 0,3 – 0,8m, thân cây có gân dọc, lông ngắn màu trắng nhạt. Lá cây mọc cân đối, dạng kép, cuống lá dài, có dìa, có 3 – 5 lá chét. Lá chét dài khoảng 2 – 7cm, rộng từ 0,8 -5cm.

Mặt trên lá màu xanh, có các lông mềm màu trắng, lá mặt dưới màu tro, lông dài hơn, mép lá có răng cưa tù. Gân lá nổi ở mặt dưới của lá chia phiến lá thành núi nhỏ.

Đan sâm có tác dụng gì?

Đan sâm có tác dụng gì?

Hoa đan sâm mọc thành chùm ở kẽ lá hoặc đầu cành. Hoa mọc thành vòng từ 3 – 10 hoa, tràng hoa màu xanh tím nhạt. Quả cây nhỏ, dài 3mm , rộng 1,5mm . Hoa nở vào tháng 5 – 8 và đậu quả vào tháng 6 -9.

Rễ  cây hình trụ, hơi cong, nhiều rễ con, dài khoảng 10 – 20cm, đường kính từ 0,3 – 1cm. Mặt ngoài rễ màu đỏ nâu, có vân nhăn dọc, vỏ rễ già khi bong ra có màu đỏ tía. Chất rễ cứng và giòn, ở mặt bị bẻ gãy hơi phẳng và đặc, phần vỏ màu đỏ nâu và phần gỗ màu vàng xám cùng với bó mạch màu trắng vàng, xếp lại thành hình xuyên tâm.

Mùa đông là khoảng thời gian thích hợp thu hoạch rễ, rễ cây sau khi đào về thì rửa sạch đất, cắt loại bỏ rễ con, mang đi ủ mềm, thái lát dày hoặc đêm sấy khô.

2. Công dụng của vị thuốc đan sâm

Đan sâm là thảo dược được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả trong điều trị huyết ứ (máu cục, bầm tím, ban ứ huyết, máu lưu thông chậm, huyết tụ).

2.1. Điều trị bệnh phụ khoa, giúp điều hòa kinh nguyệt:

Phương thuốc đan sâm tán: dùng 20 -40g đan sâm, tán bột mịn mỗi lần 6 -8g, chia đôi uống 2 lần trong ngày để điều kinh hoặc sau sinh dịch không ra hết. Tốt hơn khi hòa với đường mía hoặc thay bằng uống với rượu nóng.

Sắc lấy nước uống các dược liệu 15g đan sâm, 12g trạch lan, 8g hương phụ hoặc 15g đân sâm với 15g đương quy và 8g tiểu hồi. Bài thuốc này có tác dụng giống đan sâm tán .

Đan sâm có thể phối hợp với hồng hoa, ích mẫu thảo, đào nhân, trị đau bụng kinh rất tốt.

2.2. Điều trị đau bụng do các nguyên nhân khác nhau:

Phương thuốc đan sâm ẩm: dùng 40g đan sâm, 6g đàn hươngvà 6g sa nhân, sắc lấy nước trị đau vùng thượng vị do huyết ứ khí trệ.

Phương thuốc thứ 2: 12 – 20g đan sâm, 6 – 10g nhũ hương, sa nhân, mộc dược, trường hợp trị đau nhiều thì cho thêm diên hồ sách, còn huyết áp không ổn thì thêm nhân sâm.

2.3. Điều trị viêm gan cấp:

Theo báo cáo của Kiều Phúc Lương trong Thiểm Tây Trung y năm 1980 dùng dịch chiết đan sâm nhỏ giọt tĩnh mạch đã trị được 104 ca viêm gan cấp, tỷ lệ khỏi bệnh là 81,7%, tổng số có kết quả đạt 98%.

Trên cả lâm sàng và thực nghiệm, các tác giả đã phát hiện ra đan sâm có tác dụng làm gan nhỏ lại, cải thiện tuần hoàn, giải độc kháng virut và điều tiết tổ chức hồi phục.

2.4. Điều trị suy thận mạn:

Trong Báo cáo 48 ca suy thận trị bằng Đan sâm của Trương Kinh Nhân có cho kết quả sau khi dùng dịch chế đan sâm (thuốc sống 3g/2ml) mỗi lần 16 – 20ml gia vào dịch gluco 5% – 500ml nhỏ giọt tĩnh mạch, mỗi ngày 1 lần liên tục trong 14 ngày. Điều trị 48 ca, đối với suy thận nhẹ cho kết quả 80%, suy thận vừa là 62,5%, suy thận nặng là 65,5%.

2.5. Điều trị viêm gan mạn hoạt động:

Chích bắp dịch chiết xuất đan sâm 4ml, theo dõi trong vòng 3 tháng ( có đối chiếu với nhóm dùng thuốc tây) kết quả là tổ dùng đan sâm trong 2 tháng có 11 ca chức năng gan được phục hồi (Bạch ngọc Lương, Tạp chí Trung tây y kết hợp 1984).

2.6. Chữa bệnh sốt xuất huyết:

Dịch đan sâm uống mỗi lần 2ml (tương đương với 80g thuốc sống). Mỗi ngày uống 2 lần.

Dịch đan sâm chích tĩnh mạch 10 – 15 ml và 10% dịch gluco 500ml nhỏ giọt tĩnh mạch hoặc cho vào dịch clorua natri đẳng trương. Điều trị 63 ca sốt xuất huyết, kết quả là không có tử vong. (Diêm Hiểu Bình, truyền dịch Đan sâm trị sốt xuất huyết, Tạp chí Trung y Thiểm tây 1984).

2.7. Điều trị ho gà biến chứng não:

Mỗi ống 2ml có chứa 2g đan sâm, chích tĩnh mạch dịch đan sâm, ngày chích từ 1 – 2 ống. Dùng trị ho gà cho kết quả: 28 ca hết co giật trong ngày đầu, 10 ca giảm một nửa cơn ho, 5 ca ho giảm, có 7 ca không cho kết quả. (

Tiết Nguyên Khôi, báo cáo trị 28 ca ho gà biến chứng não bằng dịch Đan sâm, báo Y dược Giang Tây 1978).

2.8. Chữa bệnh mạch vành:

Dùng Đan sâm thư tâm phiến ( ngày uống 3 lần, mỗi lần 2 viên tương đương thuốc sống 60g) trị bệnh mạch vành 323 ca, tỷ lệ triệu chứng lâm sàng cải thiện 80,9%, điện tâm đồ cải thiện 57,3%, trong đó thiếu máu mạch vành được cải thiện tốt hơn nhồi máu cơ tim, đối với một số bệnh nhân thuốc có tác dụng hạ cholesterol ( theo sách Bệnh tim mạch, xuất bản 1974)

Khi dùng đan sâm thư tâm phiến ( mỗi lần uống 2 viên tương đương với 60g thuốc sống, ngày uống 3 lần) trị 323 ca bệnh mạch vành. Tỷ lệ triệu chứng lâm sàng cải thiện 80,9%, điện tâm đồ cải thiện 57,3%. Trong đó, thiếu máu mạch vành cải thiện tốt hơn nhồi máu cơ tim, thuốc có tác dụng hạ cholesterol với một số bệnh nhân. (sách Bệnh tim mạch,1974).

Dùng dịch đan sâm truyền tĩnh mạch gia vào dịch gluco 5% – 500ml, truyền trong vòng 3 -4 tiếng, mỗi ngày truyền một lần. Điều trị 56 ca bệnh mạch vành, số lượng bệnh nhân hết cơn đau thắt ngực, nặng ngực có tỷ lệ 88,6%, số người có điện tâm đồ được cải thiện tỷ lệ là 66,6%. (Bộ môn sinh lý Viện Y học số 1 Thượng hải, Tạp chí Nội khoa Trung hoa, 1977).

2.9. Hỗ trợ điều trị viêm phổi kéo dài:

Thôi Thúc Dân truyền tĩnh mạch dịch đen sâm trị 13 ca viêm phổi kéo dài thu được kết quả: người bệnh hết triệu chứng lâm sàng, phổi hết ran ẩm, hết viêm 7 ca Vvf tiến bộ 6 ca (theo Tạp chí Trung y 1982)

2.10. Chữa bệnh xơ cứng bì:

Tạp chí Tân y dược học cho biết, Tần Vạn Chương dùng dung dịch đan sâm nhỏ giọt tĩnh mạch để trị 16 ca xơ cứng bì. Thời gian điều trị trung bình là 43,3 ngày và 68,8% ca có kết quả , trong đó 37,6% cho kết quả tốt, 31,2% cho kết quả khá.

2.11. Hỗ trợ điều trị ung thư:

Đan sâm có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư đã được chứng minh qua thực tế của Trương Ngọc Ngũ (Học báo Trường Đại học Y khoa Tây An 1986). Dùng đan sâm nhỏ giọt tĩnh mạch để trị 7 ca lymphosarcom đã cho kết quả: 1 ca hoàn toàn hết, 3 ca hết một phần, 1 ca ổn đinh và 1 ca tiến bộ.

2.12. Trị bệnh nhũn não:

Theo Báo y học Thượng hải năm 1978, khoa thần kinh Bệnh viện Hoa sơn cho kết quả 83,72% khi điều trị 43 ca nhũn não bằng cách nhỏ giọt tĩnh mạch dịch đan sâm 8ml (tương đương 12g thuốc sống).

2.13. Điều trị bệnh huyết khối ở não:

Diệp Hựu Thái đã dùng dịch đan sâm nhỏ giọt tĩnh mạch nhằm trị 46 ca huyết khối não và có kết quả đến 93,5%.

3. Khuyến cáo trước khi sử dụng thuốc

Tất cả các bài thuốc trên chỉ dành để tham khảo cho nhân viên y tế, những người có chuyên môn vì vậy người bệnh không tự ý áp dụng khi chưa hỏi ý kiến thầy thuốc để tránh hậu quả không mong muốn.

4. Lời kết

Đan sâm giúp con người giải quyết nhiều căn bệnh nguy hiểm vì vậy việc nghiên cứu và phát triển đan sâm sẽ giúp khả năng sống của con người tăng lên và chữa dứt điểm nhiều căn bệnh.