8 tác dụng của Bạch Thược – cách dùng trị bệnh và lưu ý

Bạch thược là một trong những vị thuốc nam quý của Đông y. Bạch thược là phần rễ được phơi hoặc sấy khô của cây thược dược, do có màu trắng nên được gọi với cái tên như vậy.

Bài viết dưới đây giúp bạn hiểu hơn về vị thuốc này cũng như công dụng của nó.

1. Những thông tin cơ bản của bạch thược

1.1. Nguồn gốc, xuất xứ và mô tả về cây

Tên gọi khác của bạch thược: Dư dung, Kỳ tích, Ngưu đỉnh, Khởi ly,  Giải thương , Kim thược dược, Mộc bản thảo,

Tương ly , Lê thực, Đỉnh, Thổ cẩm, Quan phương, Cận khách, Điện xuân khách, Cẩm túc căn , Diễm hữu, Hắc tân diêng, Một cốt hoa , Lam vĩ xuân.

Tên khoa học là Radix Pacomiae Lactiflorae, thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae). 

Tìm hiểu về cây bạch thược

Tìm hiểu về cây bạch thược

Đặc điểm của cây:

Cây thược dược là loài cây sống lâu năm. Thân cây mọc thẳng đứng và không có lông. Cao từ 0,5 – 0,8m, có nhiều rễ củ to, có cành dài đến 0,3 m, đường kính 1 – 3cm. Vỏ ngoài của rễ màu nâu, mặt cắt màu hồng nhạt hoặc trắng. Cây có nhiều chồi và phát triển thành từng khóm.

Lá thược dược mọc so le, xẻ sâu thành 3 – 7 thùy. Lá dạng hình trứng, dài 8 – 12cm, rộng 24cm. Lá cây màu xanh nhạt hoặc sẫm, mép lá nguyên. Khi còn non lá giòn, dễ gãy và sẽ vàng và rụng hết khi sang thu.

Hoa thược dược to, mọc đơn ở ngọn, cánh hoa có màu trắng hoặc hồng nhạt. Mỗi bông hoa có chứa đến 20 – 30 hạt nhưng có nhiều hạt lép. Thược dược ở Trung Quốc nở vào tháng 5 – 7 và kết quả vào tháng 6 – 7.

Dược liệu:

rễ cây khô dạng hình viên chùy dài từ 15 – 20cm. Lớp mặt ngoài có vết nứt và màu nâu nhạt, mặt cắt có màu trắng mịn. Ở vùng chất mọc tách rời thành khe nứt sẽ có mùi thơm.

Bạch thược là gì?

Bạch thược là gì?

Khu vực trồng bạch thược:

thược dược thường mọc hoang dưới tán cây lớn trong rừng chủ yếu là ở các tỉnh Hà Nam, Hà Bắc, Liêu Ninh, Hắc Long Giang, Cát Lâm, Sơn Đông. Đến tận năm 1960, thược dược mới được trồng ở Sa Pa. 

Thu hoạch bạch thược:

Thược dược sau khi trồng được 4 năm mới được thu hoạch. Vào khoảng tháng 8 – 10, rễ cây sau khi đào về thì rửa sạch đất, cắt bỏ thân rễ, rễ con và cạo bỏ lớp vỏ ngoài. Ngâm rễ vào nước nửa ngày rồi luộc chín, vớt ra rồi đem đi phơi hoặc sấy khô.

Ngoài ra, ở Hàng Châu (Trung Quốc), người dân thường đào rễ thược dược vào tháng 6, cắt bỏ rễ con rồi rửa sạch. Đồ rễ cho chín rồi đem phơi 1 – 2 ngày, ngâm nước cho mềm rồi chỉnh lại dáng rễ cho thẳng.

Phơi dưới nắng nhẹ cho khô. Nếu là dược liệu chưa qua bào chế thì phải sấy lưu huỳnh. Còn nếu đã bào chế rồi thì bảo quản nơi khô ráo và tránh ẩm ướt.

Tác dụng của bạch thược

Tác dụng của bạch thược

1.2. Các thành phần hóa học có trong cây

Trong Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Đỗ Tất Lợi có viết trong bạch thược có chứa tinh bột, canxi oxalate, tamin, một tinh dầu, chất nhầy, chất béo,  nhựa, axit benzoic, glucoside thược dược

(C22H28011). Bên cạnh đó, Trung Dược Học còn chỉ ra một số thành phần khác như sistosterol, paeniflorin và trierpenoids, paeonol, paeonin.

Theo Đông y, bạch thược có vị đắng, chua, tính hơi hàn, có tác dụng nhuận gan, lợi tiểu, chữa đau bụng, dưỡng huyết, kinh nguyệt không đều, mồ hôi trộm, …

2. Công dụng và những bài thuốc từ bạch thược

2.1. Điều trị táo bón kinh niên:

Sắc nước 24 – 40g sinh bạch thược, 10 – 15g sinh cam thảo lấy nước uống. Dùng 2 – 4 thang là khỏi.  Đối với trường hợp táo bón kinh niên, mỗi tuần dùng 1 thang.

Trường hợp khí hư thêm 24 – 32g Sinh Bạch truật;

  • Bị hư hàn thêm 10 – 15g Phụ tử chế;
  • Bị huyết hư thêm 9 -15g Đương quy;
  • Khí trệ thêm 10g Mạch nha 10g;
  • Huyết áp cao can vượng thì thêm 20 – 30g Đại giá thạch, bỏ Cam thảo;
  • Nếu huyết áp cao kiêm thấp thì bỏ Cam thảo thêm Bán hạ, Trần bì;

Phương thuốc trên đã trị trên 609 ca bệnh nhân, đạt kết quả tốt. (Vương Văn Sỹ, Nghiệm chứng dùng Thược dược Cam thảo thang trị táo bón, Tạp chí Trung y 1983).

2.2. Chữa viêm loét dạ dày:

Dùng 15 – 20g Bạch thược, 12 – 15g Chích Cam thảo, nếu:

  • Tỳ vị hư hàn thêm 12g mỗi thứ Đảng sâm, Hoàng kỳ, 20g Phục linh, 10g Can khương.
  • Vị âm bất túc thêm 10g Sa sâm, 12g Mạch môn, 12g Đương quy, 15g Sanh địa.
  • Khí trệ huyết ứ thêm 10g Nhũ hương, 10g Mộc dược, 10g Đơn sâm, 10g Xuyên khung, 20g Phục linh.

Đã trị trên 120 ca bệnh, cho kết quả là 83 ca khỏi, 33 ca tiến bộ, 4 ca không có kết quả, tỷ lệ có kết quả là 96,67%, người bệnh bị thể khí trệ huyết ứ có kết quả tốt nhất. (Dư thụy Trân, Trị 120 ca loét dạ dày bằng Thược dược Cam thảo thang gia giảm, Tạp chí Trung y Sơn đông 1984).

Sử dụng bạch thược trị bệnh như thế nào?

Sử dụng bạch thược trị bệnh như thế nào?

2.3. Các chứng đau bụng: như viêm loét dạ dày, tá tràng, viêm gan, viêm đại tràng co thắt

Phương thuốc tứ nghịch tán gồm các nguyên liệu: 12g Bạch thược, 6g Chỉ thực, 6g Sài hồ, 4g Chích Cam thảo, sắc lấy nước uống.

Trường hợp đau bụng có mót rặn, kiết lỵ, dùng Sinh Bạch thược phối hợp với Mộc hương, Binh lang. Thược dược thang có 24g Bạch thược, 12g Hoàng cầm, 12g Đương quy, 6g Xuyên tiêu, 8g Binh lang, 4g Cam thảo, 2g Nhục quế, 8g Đại hoàng (cho sau), 8g Mộc hương (cho sau) sắc lấy nước uống.

2.4. Điều trị co giật cơ (chủ yếu cơ cẳng chân co rút):

Sắc lấy nước uống theo Thược dược Cam thảo thang: 16g mỗi loại Bạch thược, Cam thảo.

Hoặc dùng bài thuốc: 30g Thược dược, 15g Quế chi, 15g Cam thảo, 10g Mộc qua, sắc lấy nước uống, mỗi ngày 1 thang.

Đã  dùng bài thuốc trị 85 ca bệnh, sau khi uống 3 – 5 thang thấy hết co rút, một số ít tái phát nhẹ hơn, uống bài này vẫn cho kết quả tốt 

2.5. Điều trị tăng sinh xương:

Bài thuốc có: 30 – 60g Bạch thược, 12g Mộc qua,15g Kê huyết đằng, 15g Uy linh tiên, 12g Cam thảo, tùy chứng bệnh mà tăng hoặc giảm, mỗi ngày 1 thang, sắc nước uống.

Điều trị 160 ca bệnh, trước mắt khỏi 109 ca, 42 ca kết quả tốt, 1 ca tiến bộ, tỷ lệ khỏi 96,7% (Vương Chi Truật, Nhận xét về chứng xương tăng sinh điều trị bằng Thược dược Mộc qua thang, Báo Tân trung y 1980).

2.6. Điều trị rối loạn kinh nguyệt, băng lậu, thống kinh:

Dưỡng huyết bình can tán: 12g Bạch thược, 12g Đương quy, 10g Sinh địa, Sài hồ 10g, 10g Xuyên khung, 8g Hương phụ chế, 6g Thanh bì, 3g Cam thảo, sắc lấy nước uống trị đau kinh.

2.7. Điều trị váng đầu, hoa mắt, ù tai, chân tay tê dại, cơ bắp run giật

Bổ can thang (Y tông kim giám): 20g Bạch thược, 20g Táo nhân, 16g Đương quy, 16g Thục địa, 12g Mạch môn, 8g Xuyên khung, 8g Mộc qua, 4g Cam thảo, sắc lấy nước uống.

2.8. Điều trị hen suyễn:

Lý Phúc Sinh và cộng sự đưa ra bài thuốc dùng 30g Bạch thược, 15g Cam thảo, tán bột mịn. Mỗi lần dùng 30g bột thuốc, thêm nước sôi 3 – 5 phút để lắng cặn, uống khi còn nóng.

Điều trị 35 ca, 8 ca kết quả tốt, 23 ca có kết quả, 4 ca không cho kết quả. Cho kết quả trong 3 – 5 phút có 26 ca, trong 1 – 2 giờ có 4 ca và có kết quả nhanh nhất là sau 30 phút (Tạp chí Trung y 1987).

2.9. Chữa bệnh tiểu đường:

Mỗi viên Cam thảo giáng đường phiến có chứa Bạch thược và Cam thảo chế thành cao khô 0,165g tương đương với 4g thuốc sống. Mỗi lần uống 4 – 8 viên ( lượng mỗi ngày uống tương đương với 40g Sinh Bạch thược và 8g Cam thảo sống). Mỗi ngày uống 3 lần.

Kết quả điều trị 180 ca: 54 ca cho kết tốt, 12 ca tiến bộ tốt, 47 ca không có kết quả, Tỷ lệ đạt kết quả là 73,9% , kết hợp dùng cùng các loại thuốc khác là 34 ca cho kết quả là 79,4%. (Vương Tôn Căn, Kết quả điều trị tiểu đường bằng Giáng đường phiến, Tạp chí Trung tây y kết hợp 1986).

3. Những chú ý khi sử dụng bạch thược

Cần phân biệt với loài cây thược dược được trồng làm cảnh, có tên khoa học là Dahlia variabilis Desf và thuộc họ Compositae. Thược dược làm cảnh là cây thảo cao khoảng 1m, lá kép không có lông, có khi là lá đơn, mặt dưới xanh nhạt, mặt trên xanh lục đậm hơn, có khi là lá chét hình trứng.

Cuống lá của hoa có mua đỏ hoặc màu khác, có 2 hàng lá bắc, hàng trong to và mỏng, hàng ngoài nhỏ và dày. Hoa nở vào mùa đông và rất được ưa chuộng trong dịp Tết.

Những bài thuốc trên mang tính chất tham khảo cho người có chuyên

môn, bệnh nhân nên hỏi ý kiến thầy thuốc, không nên tự ýáp dụng chữa bệnh.

4. Lời kết

Trên đây là một số thông tin cơ bản và các bài thuốc của bạch thược, chúc các bạn áp dụng thành công và sớm khỏe mạnh!